Menu Đóng

Luật an ninh mạng là gì? quan điểm của luật an ninh mạng

An ninh mạng đã trở thành một vấn đề lớn trên toàn cầu. Các công ty đã bắt đầu lo lắng về rủi ro an ninh mạng. Để đáp lại thực trạng hiện tại, một số công ty luật lớn đã thành lập hoặc củng cố đáng kể các nhóm thực hành trong luật an ninh mạng.

1. Khái niệm Luật an ninh mạng là gì?

Luật an ninh mạng được hiểu là những quy định về các hoạt động đảm bảo trật tự, đảm bảo an ninh, an toàn xã hội trên không gian mạng internet. Trách nhiệm này thuộc về những tổ chức, cơ quan và cá nhân có liên quan.

Trong năm 2018, trong bộ luật này đã có thêm nhiều thay đổi đáng kể. Một Luật mới về an ninh mạng (Luật an ninh mạng) – (CSL 2018 ) sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2019 tại Việt Nam. Không chỉ cung cấp các biện pháp để bảo vệ môi trường mạng mà ở một mức độ nào đó đã được Luật An toàn thông tin Cyber ​​quy định ngày 19 tháng 11 năm 2015, CSL 2018 cũng bao gồm các quy định khác nhau để kiểm soát nội dung được đăng hoặc công bố trên mạng. Dưới đây là một số vấn đề nổi bật của CSL 2018.

2. Nhưng quan điểm của luật an ninh mạng

  1. Luật quy định các bước mà các nạn nhân tiềm ẩn hoặc thực sự xâm nhập Internet có thể phản ứng lại các xâm nhập tiềm năng hoặc thực tế.

Điều này có hai thành phần cơ bản. Đầu tiên, các nạn nhân có thể thực hiện các bước bất kỳ để phát hiện bằng chứng về sự xâm nhập hoặc truy tìm nguồn gốc của nó. Ví dụ, theo Đạo luật Wiretap, Đạo luật truyền thông được lưu trữ, quy chế đăng ký Pen, và trạng thái tương đương của họ, quyền hạn nào mà nạn nhân phải theo dõi các cuộc tấn công, tiết lộ hồ sơ liên quan đến các cuộc tấn công cho người khác và tiến hành theo dõi các cuộc tấn công trong tương lai? Thứ hai, các nạn nhân có thể thực hiện các bước hoạt động nào để cố gắng giảm thiểu tác hại của sự xâm nhập hoặc ngăn chặn sự xâm nhập trong tương lai? Ví dụ, tìm hiểu trong Luật Computer Fraud và luận Lạm dụng Máy tính để tìm ra giới hạn hợp pháp của phản ứng nạn nhân là gì.

  1. Luật điều chỉnh trách nhiệm pháp lý đối với việc xâm nhập máy tính cho cả thủ phạm và nạn nhân

Thứ nhất, trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự của cá nhân hoặc tổ chức nào đã vi phạm sự xâm nhập – về vấn đề đó luật pháp sẽ xem xét việc “xâm nhập” là gì để có những cách xử lý hợp tình, hợp lý nhất. Điều này chủ yếu liên quan đến Luật Computer Fraud và Lạm dụng Máy tính và các luật liên quan khác như Luật gián điệp kinh tế, luật Identity Theft.

Thứ hai, trách nhiệm dân sự tiềm năng đối với thực thể nạn nhân là gì, hoặc là do chính sự xâm phạm hoặc không tuân thủ các quy chế thông báo vi phạm? Các nguồn luật pháp có liên quan ở đây bao gồm các quy chế thông báo vi phạm và luật về tội tấn công nhà nước đối với việc áp dụng thực hành an ninh một cách cẩu thả.

  1. Luật pháp về bảo mật máy tính

Các cơ quan điều hành đã tích cực trong việc ban hành các tiêu chuẩn và đưa ra các hành động thực thi liên quan đến thực hành an ninh mạng. Vấn đề đặt ra là những cơ quan quản lý và quyền hạn nào phải thực thi các tiêu chuẩn an ninh mạng? Các nguồn luật ở đây có thể bao gồm thẩm quyền Mục 5 của FTC, Đạo luật về trách nhiệm giải trình và trách nhiệm bảo hiểm y tế (HIPAA), hướng dẫn SEC, Đạo luật Gramm-Leach-Bliley và các luật khác nhau. Chủ đề này cũng bao gồm các điều khoản quy định ở nước ngoài.

  1. Các vấn đề đặc biệt do hành vi phạm tội và quốc phòng của chính phủ

Bất kỳ chính phủ của quốc gia nào cùng đều phải đối phó với nhiều vấn đề an ninh mạng đặc biệt. Khi một nhà cung cấp mạng của chính phủ bị tấn công sẽ có nhiều ám chỉ và giám sát bị thay đổi. Các quy tắc tấn công mạng rất khác với các chính phủ, vì chính phủ thường được miễn trừ CFAA nhưng phải tuân thủ các nguồn của luật như Tu chính án thứ tư và luật xung đột vũ trang. Sự an toàn của các mạng lưới chính phủ cũng liên quan đến các vấn đề đặc biệt như việc áp dụng luật bảo mật để duy trì hồ sơ cá nhân và luật gián điệp trong trường hợp rò rỉ an ninh quốc gia.

3. Những hành vi bị cấm trên không gian mạng

Theo luật an ninh mạng mới dự định sẽ chính thức áp dụng tại Việt Nam trong năm 2019 được đưa ra tại thời điểm 2018 cấm sử dụng không gian mạng để thực hiện bất kỳ hành vi nào sau đây:

Cấm sử dụng không gian mạng, CNTT và phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội

Tổ chức, kích hoạt, hợp tác, xúi giục, hối lộ, gian lận, lừa đảo, thao túng, đào tạo hoặc kích bác mọi người phản đối Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Làm biến dạng lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hủy khối đoàn kết dân tộc, thực hiện hành vi phạm tội chống lại tôn giáo, phân biệt đối xử về giới hoặc hành vi phân biệt chủng tộc

Cung cấp thông tin sai lệch, gây nhầm lẫn giữa công dân, gây tổn hại đến hoạt động kinh tế xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc của người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác

Các hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội hoặc buôn bán người; xuất bản thông tin dâm dục, đồi bại hoặc hình sự; phá hủy các truyền thống, phong tục tốt đẹp của nhân dân, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng.

Kích động, dụ dỗ hoặc kích bác người khác phạm tội.

Có thể thấy rằng danh sách cấm là khá chung chung và mơ hồ (ví dụ như lịch sử bóp méo hoặc từ chối thành tựu cách mạng) cho phép cơ quan có quyền quyết định đáng kể. Nên khi tham gia hoạt động internet nào cũng đều được nhắc nhở đồng ý điều kiện điều khoản, trong đó sẽ định hướng chi tiết. Tất nhiên, theo luật an ninh mạng, được xuất bản sẽ nêu chi tiết mọi hoạt động cấm.

4. Luật an ninh mạng giám sát nội dung

Các nhà cung cấp dịch vụ trên không gian mạng tại Việt Nam phải tuân thủ nhiều yêu cầu để giám sát nội dung được tải lên và phổ biến trong không gian mạng, trong đó có một số yêu cầu như sau:

Tất cả các trang web, cổng thông tin hoặc trang chuyên dùng trên mạng xã hội của cơ quan, tổ chức, cá nhân không được cung cấp, tải lên hoặc truyền thông tin tuyên truyền chống lại Nhà nước, xúi giục bạo loạn hoặc gây rối trật tự công cộng, gây bối rối hoặc vu khống hoặc vi phạm lệnh quản lý kinh tế (nội dung bị cấm)

Để xác minh đăng ký tài khoản của người dùng và cung cấp thông tin của người dùng khi nhận được yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền về an ninh mạng

Để ngăn chặn việc chia sẻ thông tin và xóa nội dung bị cấm trong vòng 24 giờ sau khi nhận được yêu cầu bởi luật an ninh mạng và lưu trữ các hệ thống có liên quan cho mục đích điều tra

Để ngừng cung cấp dịch vụ cho các tổ chức và cá nhân tải lên thông tin bị cấm.

Việc quản trị mạng có thể rất khó khăn và tốn kém để xác định và lọc nội dung bị cấm vì một số nội dung không rõ ràng. Ví dụ, luật an ninh mạng mới được công bố từ 2018 xác định thông tin tuyên truyền chống Nhà nước để bao gồm nội dung:

– bóp méo hoặc làm mất uy tín của cơ quan hành chính nhân dân

– khởi xướng chiến tranh tâm lý, kích động chiến tranh xâm lấn, gây chia rẽ hoặc hận thù giữa các dân tộc, tôn giáo và nhân dân các nước

– xúc phạm người dân, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, đàn ông vĩ đại, lãnh đạo, người nổi tiếng hoặc anh hùng dân tộc. Khi đọc những hạn chế này, người ta có thể nhầm lẫn.

Ngòa ra những hoạt động của các website cá độ trực tuyến như những nhà cái W88, M88, Lucky88… được hợp pháp hóa ở nước ngoài, nhưng ở tại khu vực Việt Nam nó chưa được hợp pháp, nên những người tham gia chơi cá độ online cũng sẽ được tính là phạm pháp.

Kết luận

Với cộng đồng người sử dụng đang ngày càng đông để luật an ninh mang hoạt động có hiệu quả buộc phải tăng cường trách nhiệm, càng cường chi phí giáo dục ý thức người tham gia cộng đồng mạng. Hy vọng những thông tin về luật an ninh mạng trên đây sẽ hữu ích cho tất cả người dân Việt Nam trong việc sử dụng không gian mạng lành mạnh.

forests

Luật an ninh mạng là gì? quan điểm của luật an ninh mạng
5 (100%) 1 vote

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *